Phân bón chuyên dùng cho cây chè

Cây chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sống của cây kể cả trong thời kỳ tạm ngừng sinh trưởng, vì vậy cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để cây sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất và chất lượng cao. Trên cây chè có 2 quá trình bao gồm sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực song song tồn tại. Đây là 2 quá trình mâu thuẫn và tranh chấp dinh dưỡng với nhau. Vì vậy muốn cho chè có sản lượng búp cao thì phải sử dụng phân bón hợp lý để hạn chế sinh trưởng sinh thực cho cây chè hái búp, hoặc hạn chế sinh trưởng sinh dưỡng cho cây chè thu hoạch quả giống. Để chè sinh trưởng và phát triển tốt chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng. Mỗi chất có vai trò quan trọng nhất định tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển, cũng như quyết định đến năng suất và chất lượng chè. Chính vì vậy bà con làm chè cần nắm vững những kiến thức cơ bản về nhu cầu dinh dưỡng của cây chè để có thể bổ sung đầy đủ và cân đối dinh dưỡng và có kế hoạch chăm bón tốt nhất cho chè.

phân bón chuyên dùng cho chè

Nắm được tình hình thực tế “Phân bón Sông Mã” xin giới thiệu cho bà con và các bạn sản phẩm phân bón “Chuyên dùng cho cây chè” giúp bổ sung đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của chè. Giúp khai thác hết được tiềm năng và năng suất của giống. Tăng hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân.

1. VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY CHÈ

Các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng của cây chè cho thấy: Để có được 2 tấn búp chè khô/ha, cây chè cần lượng chất dinh dưỡng như sau: 144 kg N; 71 kg P2O5; 42 kg K2O, 24 kg MgO; 40 kg CaO, 4,828g Fe, 9,557g Mn, 760g Zn, 760g Cu và 520g B. Khi năng suất đạt 3 tấn búp khô/ha thì nhu cầu dinh dưỡng của cây chè tăng gấp 2 lần lượng dinh dưỡng trên. Như vậy trong quá trình sinh trưởng cây chè yêu cầu đầy đủ cả dinh dưỡng đa lượng, trung và vi lượng.

1.1. Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đa lượng đối với cây chè

1.1.1. Vai trò của dinh dưỡng đạm đối với cây chè

- Là yếu tố quyết định lớn nhất đến chất lượng chè. Là thành phần của chất hữu cơ, chất diệp lục, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein. Có tác dụng kích thích cho mầm và búp sịnh trưởng khỏe, nếu bón N đầy đủ và cân đối sẽ làm tăng cả phẩm chất chè.

- Theo kết quả nghiên cứu ở Liên Xô cho biết: Bón N ở dưới mức 300kg N/ha sẽ làm tăng hàm lượng tanin, cafein và chất hòa tan. Nếu bón trên 300kg N/ha sẽ làm giảm chất lượng chè vì hàm lượng nước và alcaloit trong búp quá cao, chè sẽ có bị chát đắng và không ngon.

- Khi sử dụng dinh dưỡng N cần chú ý hiệu quả kinh tế của nó. Theo kết quả nghiên cứu của Eden: Với chè trồng thuần ở vùng khí hậu ẩm thì năng suất chè có tương quan đường thẳng với lượng N bón. Ở các vùng khí hậu biến động nhiều có che bóng cho chè thì mối tương quan giữa năng suất và dinh dưỡng N phức tạp hơn. Theo Briava, để đạt năng suất chè 10 tấn/ha cần bón N – 200kg/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao. Trong các dạng đạm thì dùng đạm amon nitrat là tốt hơn cả.

- Khi cây chè thiếu đạm: làm cho cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh  nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp.

1.1.2. Vai trò của dinh dưỡng lân đối với cây chè

- Yếu tố dinh dưỡng lân có vai trò nhất định đối sự sinh trưởng và phát triển của chè, lân có vai trò tích lũy năng lượng cho cây, kích thích sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chống chịu, chịu hạn. Đặc biệt có tác dụng nâng cao phẩm chất chè, tăng lượng đường hòa tan, tăng lượng tanin và tăng hương vị chè.

- Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém. Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều thấp.

1.1.3. Vai trò của dinh dưỡng kali đối với cây chè

- Kali tham gia vào quá trình trao đổi chất của cây, làm tăng hoạt động của enzim xúc tiến quá trình quang hợp, tăng tích lũy gluxit và axit amin nâng cao chất lượng búp chè. Kali có trong tất cả các bộ phận của chè nhiều nhất là có ở thân và cành.

- Kali có tác dụng hoạt hóa các enzym giúp điều chỉnh pH và nước ở khí khổng. Giúp cây cứng, chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong búp chè.

- Thiếu kali: Cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt. Sau đó khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh, búp thưa, vỏ cây có màu trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt và chất lượng chè giảm.

Lưu ý: Hiện tượng thiếu kali trên cây chè cần được phát hiện sớm để bón phân khắc phục kịp thời, vì phục hồi sinh trưởng của cây chè khó khăn hơn so với việc thiếu các nguyên tố khác.

1.2. Vai trò phân hữu cơ đối với cây chè

- Là loại phân có tác dụng rất tốt cho cây chè. Không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất búp, chất lượng búp mà còn có khả năng cải tạo đất tốt và lâu dài. Vì vậy, trong sản suất muốn đảm bảo nương chè có năng suất cao, ổn định, thu hoạch thời gian dài, cần phải coi trọng bón phân hữu cơ cho chè bằng các loại phân như: Phân chuồng, phân xanh, phân hữu cơ hoai mục.

Ghi chú: Ở Việt Nam, trang trại nghiên cứu chè Phú Hộ nghiên cứu các loại phân hữu cơ cho biết: Trên nền bón 100kg N/ha + 50 kg K2O có bổ sung thêm cây phân xanh (lá muồng 13 tấn/ha) đã làm tăng sản lượng chè 19 – 21%. Bón cỏ Stylo đã làm tăng 6,7%, ngoài ra có tác dụng tốt cho việc chống xói mòn đất như lượng đất bị rửa trôi giảm 32 – 57%. Đồng thời còn hạn chế được cỏ dại trên nương.

1.3. Nhu cầu dinh dưỡng trung lượng đối với cây chè

Chè cần nhiều đạm nhất sau tới lân, kali và các chất trung vi lượng.

- Nhu cầu về lưu huỳnh (S): là thành phần của các axit amin có chưa S và vitamin, biotin, thiamin và Coenzym A. Giúp cho cấu trúc protein vững chắc, giúp tăng năng suất và chất lượng chè. Thiếu S: Lá chè xuất hiện những vệt vàng ở giữa gân các lá non, trong giai đoạn phát triển thiếu S lá trở nên vàng, khô dần và rụng, năng suất và chất lượng đều thấp. Trong một số trường hợp, thiếu S làm cây chết non.

- Nhu cầu magie (Mg): Có tác dụng tham gia vào cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcarbon và axit nucleic. Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô. Thiếu Mg (cây xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm.

- Nhu cầu canxi (Ca): Cần cho sự phân chia tế bào, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể, hoạt hóa emzym, giải độc axit hữu cơ. Giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, và điều kiện thời tiết bất thuận, tăng năng suất và độ dầy lá, độ lớn của búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô.

1.4. Nhu cầu dinh dưỡng vi lượng đối với cây chè

- Những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng có vai trò quan trọng với cây chè, không những làm tăng năng suất mà còn tăng phẩm chất chè rõ rệt, vì phân vi lượng có trong thành phần của các men, tham gia và điều khiển các quá trình trao đổi chất trong cây. Đó là các nguyên tố (Mn, Bo, Fe, Zn, Al, Cu, ....).

+ Vai trò của vi lượng đồng (Cu) đối với cây chè: Là thành phần của men Cytochrome oxydase, ascorbic, axit axidase,...xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, tăng sức chống chịu sâu bệnh, giúp tăng năng suất và phẩm chất chè. Thiếu đồng (Cây sinh trưởng phát triển kém, dễ bị nấm bệnh tấn công. Chè thiếu đồng khi hàm lượng đồng trong lá <12ppm.

+ Vai trò của vi lượng kẽm (Zn): Là thành phần của men metallo – enzimes – carbonic, ....quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein,...tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây. Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và phẩm chất chè. Thiếu kẽm (cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít).

+ Vai trò của vi lượng sắt (Fe): Là thành phần của nhiều enzym, quan trọng trong chuyển hóa axit nucleic, diệp lục tố. Tăng sinh trưởng và sức ra búp, tăng năng suất và chất lượng chè.

+ Vai trò của vi lượng Mangan (Mn): là thành phần của Pyruvate carboxylase, liên quan đến phản ứng enzym, hô hấp, chuyển hóa đạm và sự tổng hợp diệp lục tố. Giúp tăng khả năng ra lá, ra búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô.

+ Vai trò của vi lượng Bo: Cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thẩm thấu ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon. Tăng độ dẻo dai của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè.

+ Vai trò của Mo: Là thành phần của men Nitrogenase, cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, tăng năng suất và chất lượng chè.

+ Vai trò dinh dưỡng Cl: Là thành phần của axit auxin chloindole – 3 acetic, kích thích sự hoạt động của enzym và chuyển hóa hydrat carbon, khả năng giữ nước của cây, tăng năng suất và chất lượng chè.

+ Vai trò nhôm (Al) và Natri (Na): Ảnh hưởng tốt đến hương thơm và vị đậm của chè. Tăng năng suất và phẩm chất của chè búp khô.

2. GIỚI THIỆU NHỮNG ĐIỂM ƯU VIỆT TRONG SẢN PHẨM “PHÂN BÓN CHUYÊN DÙNG CHO CÂY CHÈ”

hình ảnh phân bón chuyên dùng cho chè

Hình ảnh: bao bì sản phẩm phân bón chuyên dùng cho cây chè

- Qua quá trình nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cây chè. Phân bón Sông Mã cho ra đời dòng sản phẩm “Phân bón chuyên dùng cho cây chè” với thành phần và hàm lượng dinh dưỡng chuẩn như sau: Đạm tổng sô (Nts) 16%, Lân hữu hiệu (P2O5hh) 8%, Kali hữu hiệu (K2Ohh) 8%, Đồng (Cu) 50 ppm, Kẽm (Zn) 50ppm, Bo (B) 50 ppm, Mo 50 ppm.

- Ngoài những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, sản phẩm còn được bổ sung thêm nhóm dinh dưỡng trung, vi lương chelate (Zn, Bo, S, Si...) là những vi lượng thiết yếu cần thiết cho sinh trưởng của chè. Tạo tiền đề cơ bản, bổ trợ hoạt động sống, không thể thiếu của cây.

- Khắc phục tình trạng, khi sử dụng phân hóa học quá nhiều sẽ làm chai đất, đất hóa chua, lượng vi sinh vật đất bị hạn chế. Ngoài dinh dưỡng đa, trung vi lượng cần thiết sản phẩm còn được bổ sung phụ gia là phân của trùn quế, có tác dụng cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, cải tạo đất, giúp đất tơi xốp, tạo điều kiện cho vi sinh vật có lợi hoạt động. Giúp cho khả năng hấp thụ dinh dưỡng được hiệu quả hơn.

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SẢN PHẨM “SÔNG MÃ CÂY CHÈ”:

* Bón phân cho cây chè thời kỳ kiến thiết cơ bản:

 + Chè tuổi 1: 200 - 300 kg/ha;

 + Chè tuổi 2: 325 - 425 kg/ha;

 + Chè tuổi 3: 450 - 550 kg/ha.

Có thể chia lượng phân trên làm 2 lần bón: lần 1 vào tháng 2 - 3 (60% lượng phân), Lần 2 vào tháng 6 - 7 (40% lượng phân).

* Bón phân cho cây chè thời kỳ kinh doanh:

+ Năng suất < 60 tạ/ha: 600 - 800 kg/ha;

+ Năng suất 60 - 80 tạ/ha: 800 - 1100 kg/ha;

+ Năng suất 80 - 120 tạ/ha: 1.300 - 1.700 kg/ha;

+ Năng suất > 120 tạ/ha: 2.400 - 3.200 kg/ha;

* Đối với cây chè miền Bắc (Thái Nguyên, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ…)

- Vụ Xuân: bón vào tháng 2 hoặc đầu tháng 3; thời gian hái vào tháng 3 - 4.

- Vụ Hè Thu: bón vào đầu tháng 5 hoặc tháng 6; thời gian hái tháng 5 - 10.

- Vụ Thu Đông: bón vào tháng 8 hoặc đầu tháng 9, thời gian hái vào tháng 11 và tháng 12

* Đối với cây chè Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai…):

- Nên bón 3 lần/năm (lần 1: bón 1/2 lượng phân trước khi chè nảy mầm, lần 2: bón 1/4 lượng phân sau khi hái chè xuân, lần 3: bón 1/4 lượng phân còn lại vào tháng 6 để thúc chè thu).

- Cách bón: bón sâu 6 - 8 cm, giữa hàng, lấp kín hoặc đào rãnh sâu 20cm cách gốc 15 - 40 cm (tùy vào độ tuổi chè) bón và lấp đất.

- Không nên bón rải để tránh hiện tượng bốc hơi hoặc rửa trôi phân.

Lưu ý: Bà con nông dân nên kết với biện pháp canh tác (làm đất, kết hợp với bón them phân hữu cơ, phân chuồng, vôi,...) thích hợp để tăng hiệu quả sử dụng phân bón.

Bạn đọc có thể tham khảo: Kỹ thuật trồng và chăm sóc chè hiệu quả.  

NVKHNN- Trịnh Thị Khương tổng hợp

Bình luận