Cách sử dụng phân bón cho cây có múi hiệu quả

Cũng như cây trồng khác phân bón là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của cây ăn trái nói chung và nhóm cây ăn trái có múi nói riêng. Để cây ăn trái có múi sinh trưởng phát triển tốt, năng suất và chất lượng quả cao thì đòi hỏi bà con nông cần có những kiến thức nhất định để áp dụng vào trong quá trình trồng trọt và chăm sóc. Ở bài viết này “Phân bón Sông Mã” xin chia sẻ cho bà con và các bạn một số kiến thức cơ bản về nhu cầu dinh dưỡng của cây trái có múi cũng như cách lựa chọn và sử dụng sản phẩm phân bón chất lượng cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cũng như phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và triển của cây ăn trái có múi.

1. VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY CÓ MÚI  

nhu cầu dinh dưỡng của cây có múi

1.1. Vai trò của những yếu tố dinh dưỡng đa lượng đối với cây có múi

1.1.1. Vai trò của dinh dưỡng đạm (N) đối với cây có múi

- Là yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn nhất trong sản xuất cây có múi.

- Đạm (N) là một thành phần quan trọng của chất diệp lục, kết hợp với chức năng quan trọng trong cây như tăng trưởng, phát triển bộ lá, hình thành hoa, đậu quả.

- Đủ đạm (N): Cây sinh trưởng phát triển tốt, bộ rễ phát triển khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh hại tấn công.

- Thiếu đạm: Ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và sản lượng. Lá có màu nhạt, hẹp, mỏng, thẳng đứng và hơi cuộn vào, nếu bị nặng lá sẽ biến vàng, dẫn đến bị rụng cành cây chết.

cây có múi thiếu N

Hình ảnh: cây có múi thiếu dinh dưỡng đạm (N)

- Thừa đạm (N): Giảm chất lượng quả. Quả lớn nhanh và phồng, tăng thời gian quả xanh, quả chín chậm. Cây nhiều tược, lá to nhưng mềm, quả lại sần sùi, vỏ dầy, tép khô, hương vị kém.

1.1.2. Vai trò của dinh dưỡng lân đối với cây có múi

Lân thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cây như: Quang hợp, hoạt động enzym, sự hình thành và vận chuyển đường. Quan trọng nhất là phát triển bộ rễ, hình thành hoa, phát triển và tăng chất lượng quả.

- Thiếu lân: Khi thiếu hụt quá mức lá có màu xanh sạm và cây dễ bị đổ. Lân ảnh hưởng đến chất lượng quả, gây biến dạng quả, vỏ quả dày. Trong trường hợp sử dụng quá nhiều phân đạm thì hậu quả của việc thiếu hụt lân lên chất lượng quả sẽ càng rõ dệt hơn. Do đó việc cung cấp cân đối đạm và lân sẽ cho năng suất và chất lượng quả tốt.

 cây có muối thiếu lân cây có múi thiếu lân (P)

Hình ảnh: cây có múi bị thiếu lân

- Thừa lân: Khi bón quá nhiều dinh dưỡng lân sẽ không gây ra bất kỳ bất ổn nào về năng suất cũng như chất lượng trái, nhưng có thể có tác động làm thiếu dinh dưỡng kẽm (Zn) trong cây và giảm hiệu quả sản xuất.

1.1.3. Vai trò của dinh dưỡng lân đối với cây có múi

- Kali có vai trò quan trọng trong sự hình thành và hoạt động của protein, chất béo, carbohydrate và chất diệp lục, duy trì sự cân bằng muối và nước trong tế bào. Giúp tăng lượng và khả năng đậu quả, hạn chế chồi non lúc ra hoa, khả năng hút nước và hô hấp của cây.

lá cây thiếu Kali

- Thiếu kali: Cây tăng trưởng chậm, lá nhỏ chuyển màu vàng, sau một thời gian sẽ bị rụng. Cành suy yếu và giảm tỷ lệ nở hoa. Lá vàng, loang lổ, sự biến vàng bắt đầu từ gần nửa đỉnh của lá, sau đó trở nên sạm. Quả nhỏ, da mỏng và mịn có xu hướng chuyển màu sớm, quả chua, khả năng chịu hạn kém. Thiếu kali nghiêm trọng làm giảm năng suất do tăng tỷ lệ rụng hoa quả, ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển chất hữu cơ vận chuyển về cơ quan dự trữ.

hình ảnh quả thiếu kali

- Thừa kali: Khi thừa quá nhiều kali sẽ có thể làm tăng thiếu hụt Magie cũng như kali trao đổi trong đất.

cây có múi thừa kali

Hình ảnh: Cây có múi thừa dinh dưỡng kali thiếu dinh dưỡng Mg

1.2. Vai trò của những yếu tố dinh dưỡng trung lượng đối với cây có múi

- Canxi (Ca): Giúp thân, cành cứng rắn tránh gẫy đổ, tặng pH đất và diệt trùng. Tăng thời gian bảo quản.

- Magie (Mg): Giúp lá xanh tốt, gốc ghép dễ tróc. Thiếu hụt Mg thường gặp trong đất chua. Thiếu Mg thể hiện sự khác biệt ở đỉnh của các lá già, lá có màu vàng thau hình chữ V ngược.

+ Magiê là một macronutrient thứ hấp thu như Mg+ 2. Magiê là một thành phần trung tâm của phân tử chất diệp lục. Một số lượng lớn các enzyme tham gia vào chuyển phosphate. Đó là tham gia vào quang hợp, quá trình chuyển hóa carbohydrate, tổng hợp axit nucleic, liên quan đến sự di chuyển của carbohydrate từ lá đến các bộ phận trên, và kích thích sự vận chuyển và hấp thu Phốt pho (P), ngoài việc có một activator của nhiều enzym.

cây có múi thiếu Mg

Hình ảnh: Cây có múi thiếu Mg

1.3. Vai trò của những dinh dưỡng vi lượng đối với cây có múi

1.3.1. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Zn đối với cây có múi

- Thiếu kẽm: Lá biến vàng trong khi gân vẫn còn xanh. Lá nhỏ dần và dóng lá dầy, có khuynh hướng mọc thẳng đứng, thân, cành không phát triển, cành non dễ chết, trái nhỏ, chất lượng kém. Thiếu Zn thường xảy ra ở vùng đất chua ven biển.

hình ảnh cây có múi thiếu Zn

Hình ảnh: cây có múi thiếu vi lượng Zn

1.3.2. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Mn đối với cây ăn quả

hình ảnh cây có múi thiếu Mn

- Thiếu Mn lá bị vàng từ cuống đến chóp. Thiếu mangan và sắt thường xảy ra ở đất chua và đất kiềm. Thiếu mangan gây ra một đốm lan tỏa màu xanh nhạt giữa các tĩnh mạch trong lá già và trẻ. Kích thước lá là bình thường. Một dải hẹp vẫn còn màu xanh lá cây trên mỗi bên của tĩnh mạch lớn. Mùa xuân cả lá non và trưởng thành có thể hiển thị các triệu chứng. Thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài làm giảm thu hoạch và tăng trưởng.

1.3.3. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Fe đối với cây có múi

cây có múi thiếu Fe

- Ở đất đá vôi, có độ pH cao, khu vực giữa các tĩnh mạch úa màu trắng do thiếu sắt  xuất hiện đầu tiên trên lá non. Khi thiếu sắt bị nhẹ, gân lá hơi tối hơn màu xanh lá cây, các triệu chứng xuất hiện đầu tiên trên tán lá mới. Khi thiếu sắt nặng, khu vực giữa các tĩnh mạch ngày càng trở nên màu vàng với toàn bộ khu vực cuối cùng trở thành ngà màu với tán lá mới nổi, mà là nhỏ hơn. Trong một số trường hợp, lá vẫn hoàn toàn tẩy trắng. Mong manh và rất mỏng.

1.3.4. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Cu đối với cây có múi

- Thiếu Đồng vỏ trái có đốm nâu, nứt ở đít quả. Để bổ sung đồng (Cu) cho cây có thể phun các thuốc trừ bệnh Cu (Copper zine, Copper B,...). Thiếu đồng, các lá thường có lá màu xanh đậm và nhỏ hơn bình thường. Các triệu chứng đặc chưng nhất là màu xanh đậm và nhỏ hơn so với bình thường. Các triệu chứng đặc trừng nhất là màu nâu sẫm.

1.3.5. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Bo đối với cây có múi

hình ảnh cây có múi thiếu Bo

Hình ảnh: lá bị thiếu vi lượng Bo

- Triệu chứng quả phát triển một màu xám, sau đó chuyển sang màu nâu. Một số hạt giống phát triển không hoàn hảo, bị teo lại, màu nâu. Quả bị thương bởi các gai của họ cam quýt thường chẩn đoán sai là do thiếu bo. Quả cam quýt bị loét lở giống như bị bệnh, vỏ quả dày, quả bị méo mó biến dạng.

1.3.6. Vai trò của dinh dưỡng Mo đối với cây có múi

- Hiện tượng thiếu Mo trong cam quýt là hiếm gặp. Nó có thể xảy ra trong điều kiện đất trồng cây có múi chua. Các triệu chứng đặc chưng là: lá xuất hiện các đốm vàng lớn trến lá. Ban đầu nó nhỏ ở gần giữa gân sau đó lớn lên ổ 2 bên rìa lá.

2. CÁCH SỬ DỤNG PHÂN BÓN CHO CÂY CÓ MÚI HIỆU QUẢ

Phân bón chuyên dùng cho cây có múi chuẩn

2.1. LOẠI PHÂN BÓN

2.1.1. Đối với thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây còn nhỏ, chưa ra trái)

- Giai đoạn này cây cần nhiều phân lân và phân đạm để thúc đẩy cây đâm rễ, đâm chồi. Do đó, cần tập trung bón nhiều phân đạm và lân cho cây. Tuy nhiên dinh dưỡng kali cũng không thể thiếu, giúp quá trình hút, vận chuyển chất dinh dưỡng được thuận lợi.

Sử dụng phân bón “Chuyên dùng cho cây ăn trái giai đoạn kiến thiết cơ bản” :

phân bón cho cây ăn trái giai đoạn phục hồi

Hình ảnh: Bao bì sản phẩm phân bón chuyên dùng cho cây ăn trái giai đoạn kiến thiết cơ bản

- Với thành phần và hàm lượng dinh dưỡng: Đạm tổng số (Nts): 18%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 10%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 6%; Đồng (Cu): 50ppm; Kẽm (Zn): 50ppm; Bo (B): 50ppm; Sắt (Fe): 50ppm. 

- Ngoài những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, sản phẩm còn được bổ sung thêm nhóm dinh dưỡng trung, vi lương chelate (Zn, Bo, S, Si...) là những vi lượng thiết yếu cần thiết cho sinh trưởng của cây có múi. Tạo tiền đề cơ bản, bổ trợ hoạt động sống, không thể thiếu của cây.

- Khắc phục tình trạng, khi sử dụng phân hóa học quá nhiều sẽ làm chai đất, đất hóa chua, lượng vi sinh vật đất bị hạn chế. Ngoài dinh dưỡng đa, trung vi lượng cần thiết sản phẩm còn được bổ sung phụ gia là phân của trùn quế, có tác dụng cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, cải tạo đất, giúp đất tơi xốp, tạo điều kiện cho vi sinh vật có lợi hoạt động. Giúp cho khả năng hấp thụ dinh dưỡng được hiệu quả hơn.

- Tác dụng chính:

+ Cung cấp đầy đủ cân đối dinh dưỡng cho cây ăn trái. Giúp cây phục hồi nhanh, khỏe.

+ Giúp cây ra nhiều chồi, đọt non, tăng khả năng quang hợp, phát triển cành lá nhanh và đồng đều tạo tiền đề tốt cho giai đoạn ra hoa và đậu trái.

+ Giúp tăng năng suất và chất lượng trái cây thương phẩm.Top of Form

2.1.2. Đối với cây có múi đã ra trái

Nên chia làm 3 lần bón chính: Sau thu hoạch, trước khi ra hoa, giai đoạn nuôi lớn trái. 

2.1.2.1. Giai đoạn sau thu hoạch:

- Là giai đoạn cây cần nhiều đạm và lân để ra rễ, đâm chồi. Cung cấp đủ đạm và lân sẽ giúp cây cho nhiều tược, tược mập mạnh….

cây ăn trái giai đoạn phục hồi  

Hình ảnh: bao bì sản phẩm phân bón Sông Mã cây ăn trái giai đoạn ra phục hồi

- Sử dụng phân bón Sông Mã cây ăn trái giai đoạn phục hồi. Với hàm lượng dinh dưỡng Đạm tổng số (Nts): 18%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 10%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 6%; Đồng (Cu): 50ppm; Kẽm (Zn): 50ppm; Bo (B): 50ppm; Sắt (Fe): 50ppm. Ngoài dinh dưỡng đa lượng, sản phẩm còn được bổ sung các chất dinh dưỡng trung và vi lượng giúp cho cây trồng phục hồi nhanh nhất. Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, giúp cây thật sung tốt để cho cây phát hoa dài, khoẻ mạnh, dễ ra hoa, đậu trái.

2.1.2.2. Giai đoạn trước khi ra hoa

Giai đoạn này cần bón nhiều phân lân và kali, giảm phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cây ra tược, khó ra hoa. Sử dụng phân bón Sông Mã cây ăn trái giai đoạn ra hoa.

Sông Mã cây ăn trái giai đoạn ra hoa

Hình ảnh: bao bì phân bón Sông Mã cây ăn trái giai đoạn ra hoa

- Với hàm lượng dinh dưỡng Đạm tổng số (Nts): 8%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 16%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 8%; Kẽm (Zn): 50 ppm; Bo (B): 100 ppm; Sắt (Fe):50 ppm. Tác dụng: Cung cấp đầy đủ, cân đối dinh dưỡng cho cây ăn trái giai đoạn ra hoa.

Giúp tăng khả năng phân hóa mầm hoa, cây ra nhiều hoa, hạn chế rụng hoa, giúp đậu nhiều trái, hạn chế thối trái và dị tật ở trái. Giúp tăng năng suất và chất lượng trái cây thương phẩm.

- Thời điểm bón: Sau khi bón phân phục hồi cho cây ăn trái khoảng 50 - 60 ngày hoặc bón trước khi cây ăn trái ra hoa 30 - 40 ngày).

2.1.2.3. Giai đoạn nuôi trái

Cây cần nhiều đạm để giúp trái phát triển, đồng thời cần kali để tăng cường vận chuyển dinh dưỡng về nuôi trái, giúp đảm bảo năng suất, chất lượng trái. Sử dụng sản phẩm phân bón Sông Mã cây ăn trái giai đoạn nuôi lớn trái.

Sông Mã cây ăn trái giai đoạn nuôi lớn trái

Hình ảnh: bao bì Sông Mã cây ăn trái giai đoạn nuôi lớn trái

- Với hàm lượng và thành phần dinh dưỡng: Đạm tổng số (Nts): 10%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 6%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 16%; Kẽm (Zn): 50 ppm; Bo (B): 50 ppm. Tác dụng: Cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây giai đoạn nuôi trái. Giúp trái lớn nhanh, lớn đồng đều, tăng độ ngọt, tăng hương vị, trái bóng đẹp, không bị dị tật. Giúp tăng khả năng neo trái trên cây, hạn chế rụng trái non. Giúp tăng năng suất và chất lượng trái cây thương phẩm.

- Thời điểm bón: Dùng cho cây ăn trái giai đoạn nuôi quả (sau khi đậu trái 10 - 15 ngày và trước khi thu trái 20 - 25 ngày).

2.2. CÁCH BÓN PHÂN

Hiệu quả sử dụng phân bón rất khác nhau phụ thuộc vào cách bón, kết cấu đất. Nếu đất để chặt hoặc bón không đúng cách sẽ làm cho phân dễ bị rửa trôi, bốc hơi… Do đó, cần làm cho đất tơi xốp bằng cách bón phân hữu cơ cho vườn cây ăn trái. Phân hữu cơ sẽ giúp đất tơi xốp, giữ nước, giữ phân, hạn chế thất thoát phân bón…

+ Cần lưu ý bón theo tán cây, cách gốc từ 1 - 1,5 m vì rễ cây ở phần gần gốc không còn hấp thu dinh dưỡng tốt, mà phần rễ tơ ở bên ngoài mới hút dinh dưỡng tốt nhất.

+ Nên xới xáo mặt đất trước khi bón hoặc đào hốc, đào rãnh để vùi phân vì phân bón rất dễ bị mất đi do bị rửa trôi hay bốc hơi, nhất là phân đạm.

+ Sau khi bón phân xong, cần tưới đủ nước để phân tan và cung cấp cho cây. Nếu bón phân mà không cung cấp đủ nước sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón.

2.3. LƯỢNG PHÂN BÓN

Lượng phân bón tăng dần từng năm theo độ lớn của cây. Giai đoạn cây đã cho trái, năm trước được mùa thì năm sau phải bón nhiều hơn năm mất mùa trong cùng một vườn, những cây cằn cỗi cần được bón nhiều hơn cây phát triển tốt. Cây mang nhiều trái thì cần bón nhiều hơn cây ít trái… Nói chung, trước khi bón phân cần “Trông trời, trông đất, trông cây”… thì mới giảm được thất thoát, nâng cao được hiệu quả sử dụng phân bón, đồng thời còn giúp đảm bảo chất lượng trái khi thu hoạch và an toàn cho người tiêu dùng.

2.3.1. Lượng phân bón đối với sản phẩm phân bón “SÔNG MÃ CÂY ĂN TRÁI GIAI ĐOẠN PHỤC HỒI HOẶC GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT CƠ BẢN

* Bón cho cây ăn trái thời kỳ kiến thiết cơ bản: 

+ Đối với cây tuổi 1: 100 – 400 g/cây/lần bón

+ Đối với cây tuổi 2: 300 – 500 g/cây/lần bón

+ Đối với cây tuổi 3: 400 – 600 g/cây/lần bón

Lưu ý: Mỗi năm bón 2 lần (bón lần 1 vào tháng 2 - 3; bón lần 2 vào tháng 6 - 7). 

* Bón cho cây ăn trái thời kỳ kinh doanh (phục hồi):

Ghi chú: Bón sau khi hái trái, vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa cành, tạo tán.

+ Lượng bón tăng dần theo tuổi cây: từ 0,5 - 3 kg/cây/lần bón. Mỗi năm bón bổ sung thêm 15 - 30 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 - 10 kg phân hữu cơ vi sinh)/cây.

2.3.2. Lượng phân bón đối với sản phẩm phân bón “SÔNG MÃ CÂY ĂN TRÁI GIAI ĐOẠN RA HOA”

- Lượng bón: 0,5 - 3 kg/cây (lượng bón tùy thuộc và độ lớn và độ rộng của tán cây) để giúp quá trình ra hoa dễ dàng.

2.3.3. Lượng phân bón đối với sản phẩm phân bón “SÔNG MÃ CÂY ĂN TRÁI GIAI ĐOẠN NUÔI LỚN TRÁI”

- Lượng bón: từ 0,5 - 3kg/cây/lần bón (tùy thuộc và độ lớn và độ rộng của tán cây).

NVKHNN- Trịnh Thị Khương tổng hợp

Bình luận