Cách sử dụng phân bón cho cây lúa hiệu quả

Lúa là cây lương thực quan trọng không thể thiếu. Trồng lúa là nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xa xưa, có lẽ khi người Việt Cổ bắt đầu công việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc ta. Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta vươn lên bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới. Năng suất lúa hiện nay đã được nâng lên đáng kể so với nhiều năm trước đây (chủ yếu nhờ áp dụng những giống mới). Tuy nhiên nó vẫn còn rất thấp so với tiềm năng của giống và điều kiện đất đai.

phân bon chuyen dung cho lua

Nắm được nhu cầu thực tế hiện nay “Phân bón Sông Mã” xin giới thiệu cho bà con nông dân và các bạn bộ sản phẩm “Bộ sản phẩm phân bón chuyên dùng cho lúa chất lượng” giúp bổ sung đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lúa. Giúp khai thác hết tiềm năng, năng suất của giống và nâng cao hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân.

1. ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY LÚA

1.1. ĐẤT NGẬP NƯỚC

Đất ngập nước tạo ra một môi trường đồng đều cho cây lúa sinh trưởng và hút chất dinh dưỡng. Trong đất ngập nước, rễ lúa thường thiếu oxy và quá trình khử oxy xảy ra hàng loạt, việc trao đổi khí giữa đất và không khí bị cản trở. Chỉ vài giờ sau khi ngập nước, các vi sinh vật đã sử dụng hết oxy có trong nước hoặc rút ra từ đất. Nồng độ khí CO2, khí Methane, H2 và Acid hữu cơ tăng lên rõ rệt do hoạt động của các vi sinh vật yếm khí. Để có thể sống được trong điều kiện ngập nước, cây lúa có những khả năng thích nghi rất đặc biệt.

Thứ nhất: là khả năng vận chuyển oxy. Để tránh bị nghẹn rễ, cây lúa đã phát triển các tế bào và các cơ quan đặc biệt để vận chuyển không khí từ lá, thân xuống rễ. Việc vận chuyển oxy từ thân lá xuống rễ được xem là sự khuyếch tán vật lý của không khí thông qua hệ thống không bào và các phần rỗng trong cây. Khi oxy được vận chuyển từ thân lá xuống rễ và từ gốc rễ đến chóp rễ thì số lượng oxy có thể bị tiêu hao hoặc được các tế bào trên dọc đường đi tiêu thụ. Do đó, rễ càng dài thì áp suất oxy ở chóp rễ càng thấp. Khi rễ dài khoảng 40 cm, áp suất của oxy ở chóp rễ chỉ còn khoảng 1/10 áp suất oxy ở tại gốc. Rễ sẽ ra chậm hoặc dừng lại khi áp suất oxy giảm xuống rõ rệt, vì oxy rất cần cho sự phân chia tế bào ở chóp rễ. Do đó, trong môi trường yếm khí, sự phát triển của rễ hoàn toàn tùy thuộc vào lượng oxy từ trên lá chuyển xuống, chiều dài rễ cũng giảm đi rất nhiều so với môi trường thoáng khí.

Thứ hai: là năng lực oxid hóa của hệ rễ nhờ sự khuyếch tán oxy từ rễ ra ngoài môi trường xung quanh. Khả năng oxid hóa đạt cực đại ở phần rễ cách chóp rễ khoảng 4 - 5 cm và rễ non oxid hóa mạnh hơn rễ già. Năng lực oxid hóa của rễ là do số lượng Peroxid Hidro quyết định hơn là do hoạt tính của Enzyme Peroxidase. Các rễ già có thể có hoạt tính của Peroxid Hidro cao hơn rễ non, nhưng năng lực oxid hóa thấp hơn do số lượng Peroxid Hidro được sinh ra ít hơn. Năng lực oxid hóa của rễ lúa có tương quan thuận với cường độ hô hấp, do đó hô hấp được xem như là tiêu chuẩn để chẩn đoán nhanh chóng hoạt tính trao đổi oxy và khả năng oxid hóa của rễ lúa.

Thứ ba: là khả năng phát triển các rễ bất định trên mặt đất và trong nước, nhất là đối với các giống lúa nổi, để hấp thu oxygen ở trên mặt đất và trong nước hỗ trợ cho bộ rễ bên dưới, trong trường hợp nước ngập sâu, sự vận chuyển oxy từ lá xuống rễ bị hạn chế.

Thứ tư: là rễ lúa có khả năng hô hấp yếm khí cao hơn so với các loại cây trồng khác

Cuối cùng là rễ lúa có khả năng loại trừ các tác hại của một số độc chất ở một mức độ nhất định. Rễ lúa có thể oxid hóa sắt trong vùng rễ, do đó giữ được nồng độ sắt trong môi trường thấp dưới mức có thể gây độc cho cây. Rễ lúa cũng có thể loại trừ sắt ở bề ngoài mặt rễ, do đó ngăn cản được sự xâm nhập của sắt vào trong rễ. Rễ lúa lại có khả năng giữ sắt lại trong tế bào rễ, do đó làm giảm quá trình vận chuyển sắt từ rễ về thân lá. Đó là cơ chế chủ yếu giúp cây lúa thích nghi được trong điều kiện ngập nước và tự vệ.

Về phương diện dinh dưỡng, trong đất ngập nước Ammonium là dạng đạm chính cung cấp cho cây lúa, đồng thời cây lúa chịu đựng và sử dụng được có hiệu quả nồng độ đạm Ammonium tương đối cao. Đất ngập nước làm tăng hàm lượng lân dễ tiêu so với đất không ngập nước. Tuy nhiên, đối với đất có khả năng giữ chặt lân trong keo đất hoặc cố định lân ở dạng bất động như trên đất phèn với lượng Fe2+ , Al3+ di động cao và khi nhiệt độ không khí thấp, thì việc bón phân lân cho cây lúa rất cần thiết. Ngoài ra, khi ngập nước nồng độ Kali, Sắt, Mangan và Silic cũng tăng lên. Tuy nhiên, hàm lượng Fe2+ cao thường gây độc hại cho cây lúa. Ngập nước còn giúp cho quá trình điều hòa nhiệt độ ruộng lúa tốt hơn và hạn chế cỏ dại giúp cây lúa phát triển được thuận lợi.

1.2. VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY LÚA

Để cây lúa sinh trưởng phát triển tốt thì cần phải bổ sung đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cần thiết cho toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của lúa. Các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa là: C, H, O (từ thiên nhiên) và các chất khoáng: N, P, K, Ca, Si, Mg, Cu, Mn, Mo, Bo,....trong đó có 3 nguyên tố dinh dưỡng cây lúa cần với lượng lớn là: N, P, K. Còn những nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng ít, nhưng không thể thiếu. Để tạo được 1 tạ thóc cần 2 kg N,  0,7 - 0,9 kg P2O5, 3,2 kg K2O và 2kg Si. Vì vậy, để đạt năng suất hạt 6 - 7 tấn/ha/vụ cần bón cho lúa số lượng phân bón như sau: 8 - 10 tấn phân chuồng, 100 - 120 kg N/ha, 100 -120 kg P2O5/ha và 30 - 60 kg K2O/ha. Đất phèn nặng, cần tăng phân lân lên 90 - 150 kg P2O5/ ha (Mai Văn Quyền, 1995).

1.2.1. VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG ĐA LƯỢNG ĐỐI VỚI CÂY LÚA

1.2.1.1. Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đạm (N) đối với cây lúa

- Đạm là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein, tế vào và mô cây, chất diệp lục thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ, giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển của thân lá. Làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. Do đó, dựa vào màu sắc và kích thước lá, chiều cao và khả năng nở bụi của cây lúa, người ta có thể chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng đạm trong cây.

- Khác với các cây trồng cạn, cây lúa có thể hấp thu và sử dụng cả hai dạng đạm nitrat (NO3-) và ammonium (NH4+), mà chủ yếu là đạm ammonium, nhất là trong giai đoạn sinh trưởng ban đầu. Cây lúa thích hút và hút đạm ammonium nhanh hơn đạm nitrat. Dù vậy, cây lúa vẫn không tích lũy ammonium trong tế bào lá, lượng ammonium dư thừa sẽ được kết hợp thành Aasparagin ở trong lá. Ngược lại, khi nồng độ nitrat trong môi trường cao thì cây lúa sẽ tích lũy nhiều nitrat trong tế bào. Điều đó làm cho người ta cho rằng, cây lúa có khả năng giữ nitrat thấp hơn đối với ammonium. Về mặt năng lượng sinh học, việc đồng hóa đạm nitrat cần nhiều năng lượng hơn đạm ammonium, vì đạm nitrat trước hết phải được khử thành ammonium.

- Đủ đạm (N): Thân, lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng suất cao. Các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng Nito cao hơn các bộ phận già. Nito có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của Nito đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ. Cây lúa hút Nito nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhanh và làm đòng. Kết thúc thời kỳ phân hóa đòng hầu như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng Nito cho cả chu kỳ sinh trưởng.

- Thiếu N: triệu chứng thiếu N thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây, cây sinh trưởng phát triển kém, hàm lượng diệp lục giảm, lá chuyển sang màu vàng, nhỏ, cây thấp, đẻ nhánh kém, giai đoạn làm đòng thì đòng nhỏ, trỗ sớm hơn và không đều, số lượng bông và số lượng hạt ít hơn, năng suất giảm.

- Thừa N: Cho lá lúa to, dài, nhưng phiến lá mỏng, nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, cây cao vóng, lóng đổ, lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, nhiều hạt lép, dễ bị sâu bệnh tấn công làm giảm năng suất, hiệu suất kinh tế thấp.

 

tình hình sinh trưởng của lúa với mức bón phân khác nhau

Hình ảnh: khả năng sinh trưởng của lúa ở mức dinh dưỡng đạm khác nhau

1.2.1.2. Vai trò của nguyên tố dinh dưỡng lân đối với cây lúa

- Lân là chất sinh năng (tạo năng lượng), là thành phần của ATP, NADP…. Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn.

- Lân còn là thành phần cấu tạo acid nhân (acid nucleic), thường tập trung nhiều trong hạt. Cây lúa cần lân nhất là trong giai đoạn đầu, nên sử dụng sản phẩm “Sông Mã cây lúa chuyên lót” để bón lót trước khi cấy cho cây lúa. Khi lúa trổ, khoảng 37 – 83 % chất lân được chuyển lên bông.

- Hàm lượng lân di động trong dung dịch đất phụ thuộc vào độ pH. Ở pH = 4 - 8 các ion chủ yếu có mặt trong dung dịch đất là H2PO4 và HPO4 2− . Đối với năng suất hạt, hiệu quả của phân lân ở các giai đoạn đầu cao hơn các giai đoạn cuối, do lân cần thiết cho sự nở bụi. Nhu cầu tổng số về lân của cây lúa ít hơn đạm.

- Hiện tượng thiếu lân thường xảy ra ở đất phèn, do bị cố định bởi các ion sắt, nhôm nên hiện diện nhiều trong điều kiện pH thấp. Thiếu lân, cây lúa cũng lùn hẳn lại, tỷ lệ nở bụi kém, lá rất thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trỗ và chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm.

1.2.1.3. Vai trò của nguyên tố dinh dưỡng kali đối với cây lúa

- Kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống ngã đổ, chịu hạn và lạnh khỏe hơn, tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn. Kali tập trung chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6 - 20% ở trên bông.

- Thiếu kali (K) cây lúa có chiều cao và số chồi gần như bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rủ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đốm nâu (Helminthosporium oryzae), lá già rụi sớm. Thiếu kali thường xảy ra ở đất thoát nước kém, đất trầm thủy, do các độc chất sinh ra trong điều kiện yếm khí đã ngăn cản sự hấp thụ K của cây lúa. Ở đất phèn cây lúa thiếu K thường kết hợp với triệu chứng ngộ độc do sắt. Thiếu kali còn có thể xảy ra trên đất cát, nghèo dinh dưỡng. Khi đất ngập nước, nồng độ kali trong dung dịch đất tăng lên. Nhu cầu kali đối với giai đoạn sinh trưởng đầu của cây lúa cao, sau đó giảm xuống và lại tăng lên ở giai đoạn cuối. Ngoài ra, do cây lúa cần kali với số lượng lớn nên việc bón bổ sung phân kali cho lúa kéo dài đến lúc trổ bông là rất cần thiết.

- Vì Natri có thể thay thế kali trong một số quá trình rất quan trọng như là để duy trì sức trương của tế bào, nên khi Kali bị hạn chế, bón muối NaCl cũng có thể cải thiện được sinh trưởng của cây lúa. Ảnh hưởng đối kháng của Natri đến sự hấp thụ Kali của cây lúa thay đổi theo mức Kali bón vào. Chỉ khi nào bón Kali với số lượng cao, thì Natri mới làm giảm sự hấp thu Kali. Điều này hàm ý rằng, khi lượng phân Kali hạn chế, thì hàm lượng Natri tương đối cao, có thể có lợi cho dinh dưỡng cây lúa trong điều kiện đất mặn ít ven biển. Tuy nhiên, bón NaCl để thay thế Kali lâu dài có thể phá hủy cơ cấu đất, làm đất chai cứng hơn và có thể gây độc do mặn.

nhu cau dinh dương của cay lua

Hình ảnh: Hiện tựợng thiếu đạm (B), lân (C) và kali (D)

1.2.2. VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ DINH DƯỠNG TRUNG LƯỢNG ĐỐI VỚI CÂY LÚA

1.2.2.1. Vai trò của dinh dưỡng trung lượng Si đối với cây lúa

- Cây lúa hấp thụ Silic nhiều hơn bất kỳ chất dinh dưỡng nào (từ 890 - 1018 kg/ha/vụ). Trong cây, Silic tập trung chủ yếu trong thân lá (khoảng 60%), 1 phần trên bông (khoảng 20%).

- Silic có vai trò quan trọng trong cây. Người ta nhận thấy rằng Silic làm tăng bề dày của vách tế bào, giúp cây lúa cứng cáp, chống đổ ngã, kháng sự xâm nhập của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, làm lá thẳng đứng, nhiều bông, giảm thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. Silic cũng làm tăng lực oxid hoá của rễ và ngăn cản sự hấp thu Fe và Mn quá mức.

1.2.2.2. Vai trò của dinh dưỡng trung lượng Mg đối với cây lúa

- Magie (Mg): rất cần đối với cây lúa là thành phần quan trọng của phân tử diệp lục quyết định hoạt động của quang hợp của cây, là chất hoạt động của nhiều mem quan trọng đối với quá trình hô hấp và trao đổi chất của cây, làm tăng hàm lượng tinh bột sản phẩm, giúp cây tăng trưởng nhanh, đẻ nhánh mạnh, hạn chế bệnh do nấm, giúp cây hấp thu được nhiều P và nhiều dưỡng chất khác.

- Hiện tượng thiếu Mg: Gân lá vẫn còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng. Xuất hiện các mô hoại tử thường từ các lá phía dưới, lá trưởng thành lên lá non vì Mg là nguyên tố linh động. Thiếu Mg làm chậm quá trình ra hoa, cây thường bị vàng lá do thiếu diệp lục.

1.2.2.3. Vai trò của dinh dưỡng trung lượng Ca đối với cây lúa

- Canxi có vai trò quan trọng trong thành phần tế bào, hình thành các mô cơ quan của cây. Là thành phần quan trọng của vách tế bào, giữ cho thành tế bào được vững chắc giúp cây tăng trưởng khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh, duy trì cân bằng anion – cation trong tế bào.

- Caxi giúp trung hòa các acid hữu cơ trong cây giúp giải độc hữu cơ, giải độc phèn cho cây, làm tăng pH đất giúp giảm độc tố sắt, nhôm, làm đất tơi xốp. Cải thiện tính thấm nước và thông thoáng nhờ đó cải thiện điều kiện phát triển của rễ. Kích thích hoạt động của vi khuẩn, làm tăng khả năng hữu dụng của Mo và sự hấp thu các dinh dưỡng khác.

- Triệu chứng đặc trưng của cây thiếu Ca là các lá mới ra bị dị dạng, chóp lá uốn câu, rễ kém phát triển, ngắn, hóa nhầy và chết. Ca là chất không di động trong cây nên biểu hiện thiếu Ca thường biểu hiện ở các lá non.

1.2.2.4. Vai trò của dinh dưỡng trung lượng S đối với cây lúa

- Lưu huỳnh tham gia trong thành phần protein, axit amin, vitamin, có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi lipit và sự hô hấp của cây.

- Triệu chứng thiếu S: cây lúa bị vàng lá như khi thiếu N, nhưng xuất hiện ở các lá non trước các lá trưởng thành và lá già. Khi thiếu S, gân lá chuyển vàng trong khi phần thịt lá vẫn còn xanh, sau đó mới chuyển vàng. Kèm theo những tổn thương hết ở phần ngon và lá non, cộng với sự xuất hiện các vết chấm đỏ trên lá do mô tế bào chết .

1.2.3. VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ DINH DƯỠNG VI LƯỢNG ĐỐI VỚI CÂY LÚA

1.2.3.1. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng sắt (Fe) đối với cây lúa

- Vai trò quan trọng nhất của sắt là hoạt hóa các men trong quá trình quang hợp và hô hấp, mặc dù không tham gia vào thành phần diệp lục nhưng có ảnh hưởng quyết định tới sự tổng hợp diệp lục trong cây. Hàm lượng sắt có quan hệ mật thiết đến hàm lượng diệp lục trong lá cây.

- Lá cây thiếu Fe sẽ chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân lá vẫn còn xanh. Triệu chứng thiếu Fe trước hết ở các lá non, sau đến lá già, vì Fe không di chuyển được từ lá già về lá non. Thiếu hụt Fe thường xảy ra trên nền đất có đá vôi.

1.2.3.2. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Mangan (Mn) đối với cây lúa

- Là nguyên tố hoạt hóa rất nhiều men của các quá trình quang hợp, hô hấp và cố định Nito phân tử, có vai trò xúc tác trong một số phản ứng men và chu trình sinh lý, kiểm soát oxy trong tế bào ở cây pha sáng và tối.

- Triệu chứng điển hình khi cây thiếu Mn là phần gân lá và mạch dẫn bị biến vàng, nhìn toàn bộ lá có màu xanh sáng, về sau xuất hiện các đốm vàng ở phần thịt lá và phát triển thành các vết hoại tử trên lá. Nếu thiếu dinh dưỡng Mn nghiêm trọng sẽ gây khô và chết lá.

1.2.3.3. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Cu đối với cây lúa

- Cu là nguyên tố hoạt hóa nhiều men của quá trình tổng hợp Protein, axit nucleic và dinh dưỡng N của cây, thành phần của nhiều men.

- Thiếu dinh dưỡng Cu: Thường xảy ra trên những vùng đất đầm lầy, ruộng lầy thụt, thiếu Cu làm mất màu xanh ở phần ngọn lá.

1.2.3.4. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Bo đối với cây lúa

- Tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hoacmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất của Bo là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và phân hóa hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành quả, tăng khả năng thấm ở màng tế bào, giúp cận chuyển Hydrate carbon dễ dàng, quan trọng trong quá trình sự phân chia tế bào, giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây.

- Triệu chứng thiếu Bo: chồi ngọn bị chết, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên, hoa không hình thành, tỷ lệ lép cao.

1.2.3.5. Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Mo đối với cây lúa

- Có vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi N và hình thành lục lạp, là thành phần của men khử Nitrate và men Nitrogenase. Thiếu dinh dưỡng vi lượng Mo sẽ ức chế dinh dưỡng Nito của cây.

1.2.3.6: Vai trò của dinh dưỡng vi lượng Zn đối với cây lúa

- Tham gia vào quá trình hoạt hóa 70 loại men của các chu trình sinh lý, sinh hoám đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic và protein, tăng cường khả năng sử dụng P và N trong cây.

- Thiếu Zn sẽ gây rối loại trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng.

2. CÁCH SỬ DỤNG BỘ SẢN PHẨM PHÂN BÓN SÔNG MÃ CHUYÊN DÙNG CHO CÂY LÚA CHẤT LƯỢNG

2.1. Sản phẩm phân bón chuyên dùng cho mạ

phân bón chuyên dùng cho mạ

Hình ảnh: bao bì sản phẩm phân bón chuyên dùng cho mạ

Để cây lúa sinh trưởng phát triển tốt thì việc chọn lựa phân bón cho lúa phù hợp ngay từ giai đoạn đầu (giai đoạn mạ) cũng rất quan trọng. Qua nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng thực tế của cây mạ, Công ty cổ phần phân bón Sông Mã cho ra đời sản phẩm phân bón chuyên dùng cho mạ.

- Thành phần dinh dưỡng: Nts 5%, P2O5hh 16%, K2Ohh 6%. Ngoài dinh dưỡng đa lượng cần thiết, phân bón cho mạ còn được bổ sung thêm các loại trung, vi lượng, axit amin tự nhiên từ phân của trùn quế,...phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây mạ non. Ứng dụng hiệu quả đối với làm mạ sân, mạ dược, mạ khay,... Ngoài ra, còn ứng dụng làm bầu ươm các loại cây trồng như: Rau màu, cây công nghiệp, lâm nghiệp,….

- Tác dụng chính: giúp cây mạ phát triển nhanh khỏe, mạ cứng cây, cây khỏe, dễ cấy, giúp lúa có khả năng phục hồi nhanh sau cấy; chống nghẹt rễ, vàng lá lúa sau cấy, giúp lúa ít sâu bệnh, cứng cây, năng suất cao. Đặc biệt, VRAT CHUYÊN DÙNG CHO MẠ làm tăng khả năng chịu rét, chịu hạn cho lúa nên có thể hạn chế tối đa hiện tượng chết mạ nếu gieo vào thời điểm rét hoặc nắng nóng kéo dài.

- Hướng dẫn sử dụng:

+ Mạ khay: Trộn 1,5 - 2 kg phân bón chuyên dùng cho mạ với 180 - 195 kg giá thể làm mạ (tương đương 8 - 12 kg phân cho 1 tấn giá thể).

+ Mạ dược: Làm đất kỹ, rải và trộn đều 2 kg phân chuyên mạ cho 20 - 30 m2 đất mạ để gieo cho 4 - 6 kg lúa giống.

+ Mạ sân: Trộn đều phân chuyên mạ với giá thể làm mạ sân, 2 kg phân sử dụng để gieo 5 - 8 kg giống lúa.

2.2. Sản phẩm phân bón Sông Mã chuyên dùng để bón lót cho lúa (SÔNG MÃ CÂY LÚA CHUYÊN LÓT)

- Trong quá trình canh tác lúa, bón lót cho lúa là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất. Bón lót tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt và là tiền đề hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, giai đoạn này có vai trò rất quan trọng đối với giống lúa cao sản (giống lúa ngắn ngày).

phân bón chuyên dùng lón lót cho lúa

Hình ảnh: bao bì sản phẩm phân bón dùng bón lót cho lúa

- Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng thực tế, cũng như đặc điểm sinh trưởng phát triển thời kỳ đầu của lúa, Công ty cổ phần phân bón Sông Mã cho ra đời sản phẩm chuyên dùng bón lót cho lúa, cung cấp đầy đủ và cân đối toàn bộ dinh dưỡng trong giai đoạn đầu cho lúa. Khi sử dụng phân bón Sông Mã chuyên lót cho lúa, bà con có thể bón kết hợp với phân chuồng hoai mục và vôi bột, mà không cần bón thêm bất kỳ 1 sản phẩm phân bón nào khác. Với thành phần và hàm lượng dinh dưỡng: Đạm tổng số (Nts): 6%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 9%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 3%; Kẽm (Zn): 50 ppm; Bo (B): 50 ppm.

- Lượng bón: 20 - 25 kg sào 500 m2; (15 - 20 kg/sào 360 m2, 400 - 500 kg/ha).

- Kết hợp phân SÔNG MÃ CÂY LÚA CHUYÊN THÚC để đạt năng suất và chất lượng cao nhất.

2.3. Sản phẩm phân bón Sông Mã chuyên dùng bón thúc cho lúa (SÔNG MÃ CÂY LÚA CHUYÊN THÚC)

- Cũng như bón lót, bón thúc cho lúa cũng quan trọng không kém. Nếu bón lót để cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho lúa giai đoạn đầu, thì bón thúc ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng phát triển, số nhánh hữu hiệu, số gié, số hạt trên bông, tỉ lệ hạt chắc, từ đó quyết định tới năng suất, chất lượng sản phẩm.

phân bón dùng bón thúc cho lúa

Hình ảnh: Phân bón dùng bón thúc cho lúa 

- Qua nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển và nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa qua các giai đoạn như đẻ nhánh, làm đòng, chắc hạt, Công ty cổ phần phân bón Sông Mã đã cho ra đời sản phẩm phân bón chuyên dùng bón thúc cho lúa có thể thay thế tất cả các sản phẩm phân bón NPK, cũng như phân đơn khác. Với hàm lượng dinh dưỡng: Đạm tổng số (Nts): 12%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 3%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 12%;Kẽm (Zn): 50 ppm; (B): 50 ppm. Độ ẩm: 5%.

- Hướng dẫn sử dụng:

 + Bón thúc đẻ nhánh (khi lúa bén rễ hồi xanh hoặc 20 - 25 ngày sau sạ): 15 - 20 kg sào 500 m2; (10 - 15 kg/sào 360 m2; 300 - 400 kg/ha).

+ Bón thúc đón đòng (khi lúa đứng cái làm đòng): 10 - 15 kg sào 500 m2; (8 - 10 kg/sào 360 m2; 200 - 300 kg/ha).

NVKHNN- Trịnh Thị Khương tổng hợp

Bình luận