Cây chè

I, NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CHÈ

1. Nguồn gốc phát sinh cây chè

Dựa vào các di tích khảo cổ học và điều kiện sinh thái của cây chè, căn cứ ở các vùng chè hoang dại và tập quán sử dụng chè nhiều tài liệu của Trung Quốc, Liên Xô cũ đã đi đến kết luận: Cây chè có nguồn gốc phát sinh ở miền núi phía Nam Trung Quốc, Bắc Ấn Độ, miền Bắc Việt Nam. Ngày nay, cây chè được trồng ở nhiều nước khác nhau do sự tiến hóa nhưng có cùng nguồn gốc chung.

2. Phân loại thực vật cây chè

Năm 1753, Line đặt tên khoa học cho cây chè là: Thea Sinensis, sau đó đặt là Camellia sinensis. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống nhất hệ thống phân loại thực vật của cây chè là:

+ Cây chè thuộc ngành hạt kín: Angiospermae, lớp 2 lá mầm (Dicotyledonae), bộ chè (Theales), họ chè (Theacea), chi chè (Camellia), loài (Camellia (thea) sinensis).

Dựa vào đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh hóa, nguồn gốc phát sinh của cây chè, người ta chia làm 4 nhóm chè sau (theo Cahen Stuart, 1919):

chè trung quốc lá nhỏ

Hình ảnh: chè trung quốc lá nhỏ (Camellia sinensis Var Bohea)

+ Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis Var Bohea): Đặc điểm của nhóm chè này (Cây bụi thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng, lá màu xanh đậm, lá dài khoảng 3,5 – 6,5cm có 6 – 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ không đều, búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu rét tốt, có nguồn gốc ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc). Được trồng nhiều ở miền Đông và nam Trung Quốc, Nhật, Liên Xô,....

chè trung quốc lá to

Hình ảnh: Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophylla)

+ Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophylla): đặc điểm của nhóm chè này (thân gỗ vừa, cao khoảng 5m, lá to trung bình dài 12 – 15 cm, bản lá rộng khoảng 5 – 7cm, cây có màu xanh nhạt bóng, răng cưa sâu không đều, có 8 – 9 đôi gân lá rõ, năng suất và phẩm chất khá. Nguyên sản ở Vân Nam, được trồng nhiều ở Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia, Indonexia.

chè shan

Hình ảnh: Chè Shan (Camellia sinensis Var Shan)

+ Chè Shan (Camellia sinensis Var Shan): Đặc điểm của nhóm chè này (cây thuộc cây thân gỗ cao 6 – 10m, phân cành cao, lá to dài khoảng 15 – 18cm màu xanh nhạt, răng cưa nhỏ và dày, búp to có nhiều lông tơ màu trắng mịn, có 10 đôi gân lá, có năng suất cao, phẩm chất tốt, được trồng nhiều ở miền nam Trung Quốc, vùng núi phía bắc Việt Nam, Sri Lanca,...

chè ấn độ

Hình ảnh: Chè Ấn Độ (Camellia sinensis Var Assamica)

+ Chè Ấn Độ (Camellia sinensis Var Assamica): Đặc điểm của nhóm chè Ấn Độ là (thuộc nhóm cây thân gỗ cao khoảng 17m, phân cành thưa, lá to dài 20 – 30cm, mỏng và mềm, lá có màu xanh đậm, phiến lá gợn sóng có từ 12 – 15 đôi gân lá, rất ít hoa, chịu rét và hạn kém, cho năng suất cao và chất lượng tốt. Được trồng nhiều ở Ấn Độ, Việt Nam,...

II, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA CÂY CHÈ

1. Đặc điểm thân và cành chè

Thân cây chè sinh trưởng theo thế đơn trục, có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành. Do đặc điểm sinh trưởng và vị trí phân cành cao hay thấp người ta chia hình dạng thân chè ra làm 3 loại:

- Dạng thân gỗ: Là loại hình cây cao to, có thân chính rõ, vị trí phân cành cao, để sinh trưởng tự nhiên cây có thể cao 15m, điển hình là các loại chè Shan, Assam,...

- Dạng thân bụi: Là loại hình không có thân chính rõ, vị trí phân cành thấp sát mặt đất, tán cây rộng và thấp, phân cành nhiều, điển hình là loại chè Trung Quốc lá nhỏ.

- Dạng thân gỗ nhỡ: là dạng trung gian giữa thân bụi và thân gỗ. Cây có thân chính tương đối rõ, vị trí phân cành cao cách mặt đất 20 – 30cm, cây cao khoảng 5m, điển hình là loại chè Trung Quốc lá to.

Trong sản xuất thường chỉ gặp loại chè thân bụi. Căn cứ vào góc độ giữa thân chính và cành cấp I, người ta có thể chia 3 dạng tán chè sau: Tán đứng thẳng, tán trung gian và tán ngang.

+ Dạng tán thẳng đứng: Góc độ thân với cành cấp I nhỏ, tán hẹp.

+ Dạng tán ngang: Góc độ thân với cành cấp I lớn, tán rộng.

+ Dạng tán trung gian: Góc độ thân với cành cấp I trung bình giữa 2 dạng tán thẳng đứng và dạng tán ngang.

Trong công tác chọn giống chè người ta thường chú ý đến dạng tán ngang vì mặt lá rộng sẽ cho năng suất cao. Trong sản xuất người ta còn dùng các biện pháp kỹ thuật như đốn hái chè để tạo tán chè rộng không ngừng nâng cao năng suất. Cành chè được mọc từ thân chính được gọi là cành cấp I, từ cành cấp I mọc ra cành cấp II,.....

- Cành chè là do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia làm nhiều đốt. Chiều dài của đốt biến đổi rất nhiều từ 1 – 10cm. Đốt chè càng dài là 1 trong những biểu hiện giống chè có năng suất cao. Trên cành có nhiều lóng, mỗi lóng mang theo 1 lá và một mầm nách, chiều dài của lóng phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc. Lóng dài và non làm cho trọng lượng búp cao. Mật độ cành hợp lý sẽ cho năng suất búp chè cao, nếu mật độ cành quá dày hoặc quá thưa sẽ ảnh hưởng xấu đến năng suất.

- Cành chè có khả năng phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh trong điều kiện thuận lợi. Lợi dụng đặc điểm đó người ta có thể nhân giống vô tính chè bằng cách giâm cành bằng cách phục vụ cho việc trồng mới. Đây cũng là tiến bộ kỹ thuật tốt cho ngành sản xuất chè.

2. Đặc điểm của mầm chè

            Trên cây chè có 2 loại mầm chính: Mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực. Mầm dinh dưỡng cho búp và lá chè. Mầm sinh thực cho hoa và quả chè.

2.1. Đặc điểm của mầm dinh dưỡng của cây chè

Trong loại mầm dinh dưỡng tùy theo vị trí và khả năng sinh trưởng có thể chia làm 3 loại mầm sau:

- Mầm đỉnh: Vị trí ở đỉnh tận cùng của cành chè. Đặc điểm hoạt động là sinh trưởng mạnh và thường có tác dụng ức chế các loại mầm khác ở phía dưới (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh). Mầm đỉnh không hoạt động liên tục trong năm mà có giai đoạn hoạt động và giai đoạn ngừng hoạt động xen kẽ nhau: Trên một cành chè một năm sẽ có 3 – 4 lần mầm đỉnh hoạt động xen kẽ như vậy, mỗi lần hoạt động sẽ tạo ra một đợt sinh trưởng tự nhiên. Khi mầm đỉnh hoạt động sẽ tạo ra búp và lá non. Khi mầm đỉnh ngừng hoạt động sẽ tạo thành búp mù. Trong sản xuất mầm đỉnh luôn bị hái đi cùng với lá non làm nguyên liệu chế biến chè.

- Mầm nách: Vị trí ở các nách lá giữa cành và lá chè. Trong điều kiện tự nhiên mầm nách ở trạng thái không hoạt động do sự ức chế của mầm đỉnh. Chỉ khi ngắt bỏ mầm đỉnh thì mầm nách mới hoạt động tạo ra cành và búp mới. Trên cùng 1 cành chè, vị trí mầm nách khác nhau có khả năng hoạt động sinh trưởng khác nhau. Những mầm nách ở phía trên thường sinh trưởng mạnh hơn mầm nách ở phía dưới. Mầm nách là loại mầm cho búp chủ yếu trong vụ thu hoạch. Nếu tạo điều kiện cho mầm nách hoạt động mạnh sẽ cho số búp thu hoạch cao, năng suất và chất lượng tốt.

- Mầm ngủ: Vị trí ở thân và cành chè đã hóa gỗ. Đây là loại mầm kém hoạt động. Mầm ngủ chỉ hoạt động khi có tác động kích thích cơ giới như đốn hái chè. Khi đó mầm ngủ hoạt động sẽ tạo ra búp và lá non có chất lượng tốt.

2.2. Đặc điểm của mầm sinh thực cây chè

- Mầm sinh thực thường nằm ở nách lá trên cùng một trục với mầm nách. Ở mỗi nách lá thường có 2 mầm hoa hoặc hơn. Khi mầm nách hoạt động mạnh sẽ ức chế mầm sinh thực và ngược lại. Trong sản xuất chè lấy búp cần hạn chế sự phát triển của mầm sinh thực, nhằm tập trung dinh dưỡng cho mầm nách phát triển thành búp mới, chè cho năng suất và phẩm chất tốt.

3. Đặc điểm của búp chè

Búp chè là phần non của cành chè gồm có tôm chè và các lá non (2 – 4 lá). Búp chè là sản phẩm thu hoạch trên cây chè. Trong quá trình sinh trưởng có 2 loại búp chè.

+ Búp bình thường: Có mầm đỉnh đang hoạt động tạo ra tôm và các lá non. Đây là loại búp cho thu hoạch chủ yếu trên cây, có trọng lượng cao và chất lượng tốt.

+ Búp mù: có đỉnh sinh trưởng ở trạng thái ngừng hoạt động, búp không có tôm và lá non, chất lượng kém. Trong sản xuất cần hạn chế xuất hiện loại búp này.

Do đặc điểm của sinh trưởng của mầm đỉnh, búp chè được hình thành theo một quy luật nhất định. Quá trình đó diễn ra như sau: Mầm chè được phát động, sau đó lá vẩy ốc mở, lá cá xuất hiện, các lá thật xuất hiện, cành chè ngừng hoạt động, mầm được phát động.

Kể từ khi mầm chè được phát động đến khi cành chè tạm ngừng sinh trưởng được gọi là đợt sinh trưởng tự nhiên của cành chè. Thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống, khí hậu, điều kiện chăm sóc. Thông thường trong 1 năm có 4 – 5 đợt sinh trưởng tự nhiên. Nhưng nếu thường xuyên hái búp trên cành thì có 6 – 7 đợt hoặc nếu thâm canh tốt sẽ có 8 – 9 đợt.

4. Đặc điểm của lá chè

- Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có 1 lá. Hình dạng lá thay đổi theo giống. Trên phiến lá có gân lá rõ ở mặt dưới. Rìa của phiến lá có răng cưa, đầu lá có thể nhọn hoặc tù. Mặt phiến lá có màu xanh đậm hay xanh vàng, phẳng hoặc nhẵn.

- Lá chè mọc trên cành theo các thế khác nhau: Lá úp, lá nghiêng, lá ngang, lá rủ. Những cây chè có thế lá ngang và lá rủ thường là đặc trưng của các giống chè cho năng suất cao. Diện tích lá có ảnh hưởng đến trọng lượng búp. Thường lá to sẽ cho trọng lượng búp lớn.

- Trên cây chè: theo vị trí và hình dạng lá có các loại lá: Lá vẩy ốc, lá cá, lá thật và tôm chè.

+ Lá vẩy ốc: Là lá rất nhỏ, cứng, làm nhiệm vụ bảo vệ đỉnh sinh trưởng của mầm chè khi mầm ở trạng thái ngủ nghỉ.

+ Lá cá: Nhỏ, dị hình, không có răng cưa và gân lá.

+ Lá thật: là những lá phát triển hoàn chỉnh, tuổi thọ trung bình là 1 năm.

5. Đặc điểm của rễ chè

- Bộ rễ của cây chè bao gồm các loại rễ sau:

+ Rễ trụ: Là rễ chính phát triển từ phôi, ăn sâu trong đất trung bình 1,5 – 2m, hoặc sâu hơn.

+ Rễ bên: Phân nhánh từ rễ trụ. Kích thước của rễ bên lớn nhỏ khác nhau được phân bố trong các tầng đất.

+ Rễ hấp thu: Mọc từ các rễ bên, rất nhỏ để hút nước và dinh dưỡng còn gọi là rễ hút.

Đặc điểm nổi bật của bộ rễ chè là thời kỳ đầu tốc độ phát triển của rễ và thân có hiện tượng xen kẽ nhau. Cây chè đã trưởng thành ổn định thể hiện ở bộ rễ chè phát triển đầy đủ, thường tập trung ở tầng đất sau từ 0 – 40cm, đồng thời có khả năng ăn rộng tới 2 – 2,5 lần so với tán cây. Bộ rễ chè có yêu cầu môi trường đất chua có pH: 4,5 – 5,5 vì khả năng đệm của dịch tế bào rễ mạnh và có đủ các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho chè.

6. Đặc điểm hoa, quả và hạt chè

            Sau khi gieo trồng 2 năm cây chè ra hoa đầu tiên. Từ năm thứ 3 đến thứ 5 cây chè hoàn chỉnh về các đặc điểm phát dục.

- Hoa chè: Do mầm hoa phân hóa thành, vị trí hoa nằm ở các nách lá. Trong điều kiện tự nhiên ở Miền Bắc nước ta hoa chè bắt đầu được phân hóa vào tháng 6, sau tạo thành nụ và hoa nở rộ vào tháng 11 - 12.

+ Hoa chè thuộc loài hoa lưỡng tính, có 5 – 7 cánh, hoa màu trắng, có mùi thơm, có 200 – 400 nhị đực. Trong ngày hoa nở từ 5 – 7 giờ sáng, nhị đực chín trước nhị cái khoảng 2 ngày. Hoa chè chỉ tự thụ phấn 2 – 3%, tỷ lệ đậu quả thấp, dưới 12%.

- Quả và hạt: Quả chè thuộc loại quả nang, mỗi quả có 1 – 3 hạt. Khi quả chín có vỏ màu nâu, vỏ quả tự nứt và tung hạt ra ngoài. Hạt chè có vỏ dày và cứng, có khối tử diệp lớn chiếm ¾ trọng lượng hạt, trong đó có hàm lượng dầu và chất béo khá cao (hơn 30%). Dễ bị phân giải làm mất sức nảy mầm, cho nên thu hạt chè giống về phải gieo ngay. Mặt khác, độ chín sinh lý của hạt chè thường chín sau độ chín hình thái. Do vậy nên thu quả chè giống sớm.

Giáo trình cây công nghiệp + NVKHNN- Trịnh Thị Khương

Bình luận